Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Niềm tin suy tàn !


Với một nguồn nhân lực già nua, cằn cỗi sáng tạo, tham lam và dối trá vô độ, hệ thống quản trị quốc gia (nói chính xác là hệ thống cầm quyền thống trị) chỉ biết dựa vào 3 nguồn lực chính: tài nguyên, nguồn vốn vay của nước giàu và nguồn cung ứng lao động giá rẻ (giai cấp công nông – nguồn lực nền tảng của xã hội “mới” theo lý thuyết Marcism) để phát triển.

images.jpg

Và đến lúc 3 nguồn lực đó cạn kiệt, để hệ thống tiếp tục tồn tại, thì hệ thống này chỉ còn biết dựa vào việc tận độ khai thác “quyền lực cầm quyền” sẵn có để tận dụng vét nguồn vốn sẵn có trong dân chúng như tăng các loại thuế (như xăng…), ép buộc thay đổi giá trị hiện có để trục lợi (như mua bán vàng SJC, và có thể đổi tiền trong tương lai gần…), trục lợi từ niềm tin thơ ngây và tuyệt vọng của dân chúng (qua trò chơi xổ số Vietlot) và cả việc quỳ gối ngoại bang để xin tiền mặc nhiên đat đai biển cả bị mất, tình trạng nô dịch càng lún sâu hơn…

Tương lai gần nhất có thể là thuế đất và thuế nhà sẽ tăng lên gấp nhiều lần ? (Theo vận trù học cá nhân). Nhân dân chuẩn bị đi là vừa !


1. Đã với qua mười lăm năm của thế kỷ mới, thơ Quảng vẫn như còn chưa thoát khỏi cái bóng của quá khứ. Mười lăm năm trong hành trình một nền thơ quả thực là quá ngắn để nói được điều gì, song cũng đủ lùi xa khiến chúng ta có thể đủ sự điềm tĩnh để nhìn thấy lược đồ chuyển động của một vùng thơ.

2. Với những Khương Hữu Dụng, Bùi Giáng, Trinh Đường, Thu Bồn,… những nhà thơ đã sẵn sàng dâng hiến mình cho thơ, nhiều thập niên qua, thơ Quảng không có một số phận nào tuẫn nạn cho thơ, thậm chí dường như thơ trở thành vật hiến tế để cầu danh cho nhà thơ.

3. Song song với nền thơ là một nền phê bình què quặt, nơi mà ai cũng có thể trở thành những nhà phê bình với những hỏa mù ngôn ngữ khiến gương mặt thơ của một vùng đất vẫn nhơn nhơn đầy đặn hoa thơm trái ngọt. Trên các mặt báo, những bài “phê bình thơ” vẫn là những món lẩu trộn lẫn chất báo chí – bình tán, chỉ có giá trị như những bài điểm sách “mèo khen mèo”.

4. Thơ Quảng hiện đại từ Tình già – Phan Khôi đến nay vẫn là những cuộc bắn pháo hoa: màn đầu là Phan Khôi báo hiệu khai sinh phong trào Thơ Mới, rồi Bùi Giáng với thi tứ dị cuồng, ngôn ngữ khai phóng sản sinh một khuynh hướng thơ kỳ lạ mà quyến rũ khó gọi tên, rồi những Lê Thu Thuỷ, Hoàng Mai có người xem như chuẩn bị cho phiên đổi gác trong thơ hiện đại Việt Nam vào thập niên cuối thế kỷ XX, gần đầy, những Nguyễn Hữu Hồng Minh, những Lý Đợi với nhiều thể nghiệm mới đang trở thành một tiêu điểm mới trên bản đồ thơ Việt, nhưng vẫn còn nhiều tuyên ngôn, nhiều khẩu dụ hơn là các tác phẩm đủ sức làm xôn xao cảm xúc hay gây nổ suy tư công chúng thơ. Những cuộc “duy tân” trong thơ vẫn nằm ở những phút giây bắn pháo hoa rực rỡ ấy ?

15825893_10154511772673929_4942334916555283780_n

5. Tôi không đủ sức để đọc tất cả thơ Quảng cũng như dõi theo sự chuyển động của thơ Việt trong mấy mươi năm qua để có thế thấy được những thành tựu, những đóng góp, những chuyển động của vùng đất thơ xứ Quảng mà trong tâm thức của riêng tôi vẫn là vùng đất của văn xuôi và phê bình. Thơ Quảng, trong ý nghĩ và cảm xúc của tôi là vẫn quẫy đạp trong không gian thẩm mỹ cũ.

6. Trong khi đấy, thơ Đường luật, nói đúng hơn một thể thơ biến dị 56 chữ hoặc 28 chữ chèn chẹn với vần chân, độc vận, lại bất kể luật niêm và đối trong thơ Đường luật chính thống đã hiện hồn trở lại ở các phường thơ đô thị và trong các Phật tự.

7. Thơ ca hiện nay đã chuyển động đi rất xa các giá trị xác lập hồi giữa thế kỷ, bài thơ bây giờ được nhận thức như một hình thức thẩm mỹ mà giá trị xúc cảm được tạo nên bằng các va đập, biến dị của ngôn từ hơn là sự liên kết ngôn từ, tứ thơ thay thế bằng một chuỗi liên tưởng lan tỏa đến vô hạn để khơi gợi suy tư, người đọc thơ được sống với tinh thần “dân chủ” trước người làm thơ khi tiếp tục trò chơi thơ mà nhà thơ đã vạch ra trong bài thơ,… Trong khi ấy, thơ Quảng vẫn tiếp tục một số khuynh hướng chung trong truyền thống: coi trọng yếu tố tự sự trong thơ; sử dụng nhiều “điển cố” mới sáo mòn, dòng thơ 7 chữ, 8 chữ, 5 chữ, hay 6-8 đều đặn trên bài thơ vẫn thống lĩnh trong thơ, tứ thơ vẫn khởi lên tại một điểm nhấn ngôn từ trên bài thơ, bài thơ luôn triển khai ngôn từ để đạt tới một chủ đề, một nội dung cụ thể nào đó. Thơ vì thế bị “bắt chết” vào một ý niệm định trước của nhà thơ; bài thơ vì thế là một sinh thể “đóng khung” giới hạn thẩm mỹ của người đọc. Cả vùng đất thơ, cả nền thơ vì thế chỉ có câu thơ hay (theo thẩm mỹ truyền thống), khổ thơ hay, mà ít có bài thơ hay,… Còn tác giả thơ hay thì dường như trống vắng ?!

Những bài thơ trong một ngày 24/12


2013

Cuối năm đốt một nén nhang
Tình lên ngun ngút trắng tàn tro bay
Khói sương ngập mắt người say
Nhớ lên lưng lửng giữa ngày giữa đêm…

2014

Lần quần giữa cõi âm dương
Dạt trôi bến nhớ đò thương cuối mùa
Đồi hoang tím suốt hoa mua
Ta ngồi đếm tuổi hơn thua với trời
Thõng tay ngồi ngó mặt người
Chảy trôi về phía mặt trời đang lên…

2015

Tối qua ngủ rất tình cờ
Quá khuya nghe tiếng bơ phờ của đêm
Chuông chùa lẫn khói Noel
Tiếng rung đứt nối nổi nênh kiếp người
An thân lặng thấy nói cười
Tinh tâm lại ngộ đười ươi là mình !

2016

Ngày qua ngọn cỏ vẫn sương
Ngày về nhớ lại vẫn thương như hồi
Năm mươi tình đã về trời
Để ta năm mốt với người trong mơ !

Saigon, ngày 24/12 (tứ niên)

14859512_850801781721616_2010275696_o

Người Việt theo Noel


Qua chuyện đi chơi Noel mới thấy người Việt ham vui, hời hợt và lười biếng…

Bất kể thuộc tôn giáo nào, văn hóa nào, nhiều người Việt đã xem Noel như ngày hội của mình, và họ tràn ra đường đi chơi, tập trung lại để nhậu, mua cây thông Noel về trang trí giữa nhà, cả trước bàn thờ Phật… Để vui ?

Nhiều người đã lấy sự “dung hợp” văn hóa, “tiếp biến” văn hóa để hợp pháp hóa hết thảy mọi thứ niềm vui kiểu đi chơi Noel này !

tải xuống.jpg

Người Việt là vậy, ham vui, ham chơi trở thành một phẩm chất mang bản sắc văn hóa đậm đặc rồi, nên hễ có cái chi dzui của nhân loại thì cứ sẵn sàng mang về để xài… Xài chùa cũng là một thuộc tính đẳng cấp của người Việt ?

Rộng ra, vì hời hợt dễ dãi như vầy, nên họ ít chịu khó học hỏi đến nơi đến chốn, lười biếng sáng tạo. Sau những thành tựu lớn (và chung của cư dân Đông Nam Á) đóng góp ít nhiều cho lịch sử văn minh nhân loại hai “công nghệ”: trồng lúa nước và đúc đồng, con cháu vua Hùng không thấy có những sáng tạo gì thêm cho nhân loại.

Và thế là họ vay mượn, “tiếp biến”, “dung hợp” văn hóa của người khác về, cho nền văn hóa mình chi dùng. Nhìn vào hệ thống tư tưởng thôi, ta thấy người Việt rinh gần hết của người ta về xài, từ Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đến Kitô giáo, Mác-Lênin giáo… Nhưng có điều oái ăm là họ lại thường vay mượn cái cũ, đồ second-hand về để xài.

Thành ra cứ vậy, người Việt rất vui, rất sang, nhưng nước Việt thì không thấy phát triển. Không phát triển nhưng vẫn vô lo, vẫn vui như ngày hội Noel ?

Saigon, Noel 2016

Tin đồn


Chiều nay trên chuyến xe từ Gò Công về Saigon, mấy người bạn thông báo về việc ông Nguyễn Bá Thanh bị đầu độc.

Ta không biết có bao nhiêu phần trăm sự thực đúng sai ? Ta không biết sự kiện có vẻ ly kỳ này sẽ ấn lên đời sống bao nhiêu ý nghĩ và tin đồn ?

Song đối với tôi, tin tức này không để lại một chút cảm xúc nào hết. Bởi lẽ một thể chế tổ chức bộ máy không dựa trên thực tài và khoa học, chỉ dựa trên lý lịch, sự trí trá và tiền bạc thì tất sẽ làm lũng đoạn mọi thứ… Quả báo hiện tiền, xã hội tất sẽ rối loạn giá trị ! Và một khi đã vậy thì không có gì không thể diễn ra, từ sự bất lương đến bỉ ổi, từ sự tha hóa đến đê tiện…

Ta đã thấy có nhiều chuyện ly kỳ, dù nhiều hồ sơ chưa (bao giờ) được giải mật, những câu chuyện thầm thĩ nơi công đường, những nguệch ngoạc trên những con chữ hồi ký… Lần này thì không còn vậy nữa, nó đã râm ran trong dân chúng, nó đã nổ bung trong tuyền thông… Và nó dần dà lấn tới với tất cả dị hợm ly kỳ không cưỡng lại được. Cái gì sẽ đến thì sẽ đến… Đấy mới là thứ cảm xúc được định đoạt và sắp đặt theo logic của thực tại. Nó ánh lên sắc hoàng hôn cuối ngày… Nó đẹp một vẻ đẹp bi hài trên sân khấu đời sống, một vẻ đẹp khiến ta mỉm cười một cách vô cảm !

Gò Công, ngày 25/12/2014

DÂN CHỦ TRONG TẠP VĂN !


Một ban đọc than phiền tôi đã “chính trị hoá” khi bàn nói về thể loại tạp văn trên một stt. Có không ?

Không hề có !

Bởi vì dân chủ là một khái niệm, một định chế, một trạng thái… cua văn hoá, văn minh trong lịch sử phát triển nhân loại. Nó đâu chỉ thuộc địa hạt chính trị. Vả lại nếu đem nội hàm này để người Việt XHCN cho nó vào phạm trù chính trị lại hoàn toàn bất cập, vì ta đâu có dân chủ. Tiếc thay một khái niệm văn hoá đẹp nhất của nhân loại lai trở thành một nỗi ám ảnh “chính trị” để người Việt sợ hãi mà nhắc nhở tránh né như vậy ? Bi kịch thay !

Tôi nói tạp văn là một thể loại dân chủ vì mấy lẽ sau đây.

Về mặt cấu trúc, nó phi tuyến tính, rất 4D, bất chấp logic hiện thực, theo liên tưởng nó nhảy cóc rất chủ quan từ chuyện nọ xọ chuyện kia, từ những chuyện thiêng liêng như công lý, tình yêu, Thượng đế, BCT, cach mang đến chuyện ăn, ngủ, đ., ị, gầm cầu có chợ của bàn dân thiên hạ… Với tạp văn, không có chỗ cấm kỵ ?

Ngôn ngữ tạp văn thì đa sự, đa tầng, đa nghĩa, đa đa… đủ loại đủ cách để gây shock và làm chảy nước mắt hạnh phúc, và gây cười đến vỡ mũi u đầu cho người đọc…

Nhân vật chính của tạp văn thường là cái tôi cá tính, độc lập, trung thực, phi chính trị… Người viết tạp văn chỉ vì con người nhân sinh và cái Đẹp mà bày tỏ. Nó không biết bầy đàn và a dua xu thời. Nó lặng lẽ ngắm đời qua cái độc nhãn của nó… Rò ràng với cách ứng xử như vầy nên nó cực kỳ dân chủ. Nó không phù hợp với một xã hội quen sinh hoạt theo nề nếp phục tùng sợ hãi, theo đám đông đười ươi. theo hội đoàn…

Dân chủ như vậy nên nó đòi hỏi một không gian thoáng đãng trong nhận thức và tâm hồn, từ những con người đa nguyên…

15578973_10154465443973929_577475628525592231_n

Saigon là mảnh đất của tạp văn vi Saigon phức hợp, đa thanh và vô ưu hồn nhiên với mọi cách ngắm nhìn, mọi cách phản biện… về nó. Nó chấp nhận, lắng nghe và đọc được tạp văn. Bởi vậy tạp văn Saigon có công chúng bỏ tiền để mua va đọc.

Đà Nẵng chỉn chu, nề nếp, sạch sẽ với thói quen 10h đi ngủ bất kể cảm xúc thời khắc ấy vui vẻ như thế nào, cảm xúc bao nhiêu. Đà Nẵng dễ tự ái, thấy một người lạ, một cách nhìn lạ thì rủ nhau bàn tán xôn xao. Đà Nẵng vuông vức đến đi với những con đường quy hoạch và những tâm hồn luôn được hành chính hoá mỗi ngày…

Tạp văn vì thế đâu có chỗ ở những nơi như vậy ?

Đành chờ !


Vài năm gần đây, sách viết về Saigon bỗng nhiên nở rộ đột ngột, tựa như có một đột khởi nào đó từ hiện thực, tựa như có một nguồn nham thạch phun trào nào dó để Saigon trở thành một đề tài rầm rộ cho tạp văn… Nhìn và tự ngẫm mấy điều:

1) Chưa có một nghiên cứu mạnh mẽ về hiện tượng này !

2) Lại vân vi nhớ Đà Nẵng, đẹp vậy, hào hùng vậy mà sao chưa thấy có một dòng sáng tác nào mạnh mẽ để Thành Đà trở thành một địa chỉ văn học… Đà Nẵng không đủ sự dày dặn và phức hợp để cảm và nghĩ ? Hay Đà Nẵng không có nhiều nhà văn phù hợp để viết về nó ?

15578973_10154465443973929_577475628525592231_n

Các nhà nghiên cứu thường cho văn chương vốn sinh ra từ sâu thẳm của nỗi buồn và sự hướng nội về những phận người cụ thể. Đà Nẵng có khi tự hào quá, vui quá, có khi thanh thản quá theo màn pháo hoa và những con đường vuông vắn, đồng mức nên văn chương nó không đủ sức để sinh ra ?

Hay cũng có khi Đà Nẵng không có những thuộc tính đồng cảm với tạp văn, một thể loại văn chương dân chủ nhất, đa nguyên nhất, bụi đời nhất để nó được nhà văn Đà Nẵng chi dùng dễ dàng ?

Ôi Đà Nẵng của tôi, một Đà Nẵng dường như vẫn còn ở trạng thái bình thân như cũ !