Feeds:
Bài viết
Bình luận

THẦY TÔI


Một chiều giữa năm lớp 5 tiểu học, thầy Hồ Tấn Tư đi xe Honda 68 xuống làng, gửi xe đi bộ vào xóm cát Phú Bình để xin ba me cho Thầy chở tôi lên phố Tam Kỳ. Ban đầu tôi không biết Thầy đưa tôi đi như vậy để làm gì, chỉ biết cái cảm xúc sung sướng ngây ngất của một đứa học trò quê lần đầu tiên trong đời được ngồi trên chiếc xe máy. Thầy chở tôi qua chợ, các trường học, đi dọc theo những con phổ ngắn nghèo nàn của thị xã Tam Kỳ sau 1975.

Cuối cùng Thầy đưa tôi đến ga Tam Kỳ. Tôi vẫn còn nhớ như in, trong cái nắng quái chiều hôm ngày ấy, hai thầy trò đứng đợi một đoàn tàu đi qua. Ga Tam Kỳ sau chiến tranh chơ vơ, khô khốc giữa một khu đất còn đầy hố bom, những cây dương liễu cụt ngọn, dây thép gai còn chăng dày đặc xung quanh… Ga ngày ấy hiu hắt và thưa thớt chuyến tàu qua lại. Sau khi cho tôi nhìn thầy đoàn tàu rầm rập đi qua, Thầy dặn tôi: Ít bữa con đã đi thi học sinh giỏi rồi, Thầy chở con đi các nơi là để con nhìn thấy mọi thứ mà viết. Con nhớ con phải viết những gì con thấy, con nghe được, con chỉ viết những gì con cảm nhận và suy nghĩ từ chính mình thôi… Đấy là lời dạy đã trở thành một nguyên tắc vàng, và nó đã đi theo suốt những chặng đời đã qua của tôi. Theo lời Thầy, tôi đã luôn sống, nghĩ và viết một cách trung thực, độc lập, vì con người, vì cái Đẹp như vậy.

Sau này, ở nhiều năm cuối các cấp học, Thầy đã cho tôi lên ở lại nhà Thầy tại căn nhà 47 Tiểu La để ôn thi bồi dưỡng trong các kỳ thi học sinh giỏi. Căn nhà Thầy đầy sách và hơi ấm tình yêu học trò. Và có lẽ từ đây, sách vở, tình cảm thương yêu của mọi người trong nhà, sự dạy dỗ luôn ôn tồn, giản dị và sâu sắc của Thầy đã khơi dậy mọi thứ trong đứa học trò quê ngơ ngáo như tôi. Từ đây. một “cú hích Archimedes” với tôi được bắt đầu để tôi đi tiếp trên con đường xa rộng về tương lai. Từ đây, nhờ sự dạy dỗ của Thầy, một đứa học trò ở một làng cát nghèo hiu quạnh như một nơi mà Chúa dương đã bỏ quên đã biết tin yêu con người, biết trân quý con chữ, tri thức trong một thời kỳ vốn bị coi như là những loại thứ yếu, xa xỉ sau thực phẩm tem phiều và lý lịch chính trị. Sau này, tôi được biết Thầy là một trí thức Tây học ít ỏi trong hệ thống giáo dục tiểu học sau biến cố 1975 vẫn còn được “lưu dung” để dạy học…

Những năm đầu đời sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm Huế, trước ngày 20/11, tôi chưa viết thư chúc Tết Nhà giáo đến Thầy thì đã nhận được lá thư thăm hỏi, động viên và nhắn nhủ từ Thầy. Sau gặp Thầy, Thầy nói: Con đừng ngại ngần chi, coi như Thầy gửi thư thăm chúc đồng nghiệp tương lai ấy mà… Tôi vẫn luôn nhớ mãi khuôn mặt hiền từ của Thầy ngày ấy, và vẫn mang theo niềm mong ước lớn mà Thầy đã gửi cho tôi trên con đường dạy học của mình. Tôi vẫn luôn cố gắng sống, dạy học như cách của Thầy dạy tôi, ứng xử với những học trò của mình sau này dưới lời dạy mà như đã thành cái bóng cây đại thụ mênh mông nhân hậu của Thầy. Tuy nhiên sau 11 năm dạy học, vì lý do sức khỏe, vì sự khác biệt về quan niệm giáo dục trong nhà trường, tôi đã chuyển nghề trong những dày vò nội tâm dài ngày. Đấy là lần lớn nhất tôi thấy mình xấu hổ và nhỏ bé, vì chính mình dường như đã “bỏ quên” niềm mong ước của Thầy…

Thầy ơi, đã biết và dự cảm về lẽ tử sinh thường hằng của một đời người, nhưng cái tin sáng nay vẫn làm con bàng hoàng và đau đớn. Thầy đã ra đi mãi mãi về phía cõi Người Hiền, nhưng hình ảnh, nhân cách và những lời dạy ngày nào của Thầy vẫn sẽ là những viên kim cương bất hoại trong lòng con. Kính biệt Người Thầy vĩ đại trong cuộc đời con !

Saigon, ngày 7/3/2016

Yêu Chữ…


Ngày tưởng đã đông cứng ở văn phòng, sau những giờ đùa giỡn với chữ, cuối chiều đang liu thiu thì bỗng nhiên nghe: Anh ạ, em đây, nhớ em không. Hình như bài anh viết kia là viết về em à ? Nghe giọng Bắc Hà tròn vành rõ chữ thánh thót nhưng không thể nào nhớ nỗi nên cứ nhại đại: Vâng, anh đây. Mà này bài gi và ở đâu vậy em ? – Thì bài trên trang… đấy. – Ừ, anh nhớ ra rồi !

Thực tình, ta không nhớ nỗi ra ai và ở đâu… Chỉ thoáng trong âm u trí nhớ, và tỉnh ngủ vì cái trò sắp chữ để chơi…

Leaning-to-Write-Francine-Prose.jpg

Đọc và rong chơi, rồi viết, rồi một ngày rơi vào cõi chán bất tận, cafe và lời Phật dạy cũng không đem lại nỗi an vui nào. Trong cái câm lặng, bỗng lấy chữ ra sắp, sắp thành những hàng hàng vô định để nó nổi lên những hình khối và lao xao những thanh âm. Lạ thay, chữ như tiếng của cái phong linh ngoài cửa xua đi được cái lạnh lẽo, trống rỗng tưởng vẫn ương bướng ngự trị trong tâm hồn.

Và cứ thế để trò chơi trở nên không chán mỗi ngày, ta dồn tất cả những ai đi qua ký ức thành một Em long lanh huyền bí và dùng chữ sắp ra. Mỗi ngày vài ba dòng, vài mươi hàng về Em như thế… Bao nhiêu ngày từ vô thức tròng trành với chữ là có bao nhiêu Em. Cứ theo đà cảm khoái sung sức của chữ và cõi hồi ức mênh mang ta không biết trò chơi này sẽ bao giờ chấm dứt đây.

Những ngọn tình sầu theo cơn sóng chữ miên man dồn dập có thể làm ta quên ngày tháng, quên muộn phiền, quên mưa nắng quên thuốc thang…

Chưa bao giờ ta bỗng nhiên yêu Chữ đến vậy. Chữ dường như đã băng bó những vết thương sinh tồn, hắt lên nguồn sáng sinh khí cho hiện hữu, mang lại vô ngã cho người…

Ngày 1/3/2016


“Nghiên cứu giúp người ta cầm ngọn đèn sáng của hiểu biết xua tan vô minh và những tri kiến sai lầm và cho phép người ta có được trí huệ cần thiết để đi trên con đường đến giải thoát. (…) xoá bỏ những nhiễm ô và thiết lập nền tảng của tỉnh giác dẫn người ta đến chỗ hiểu được vô thường, khổ, vô ngã và tánh Không” (Đức Ngài Sakya Trizin).

Buồn quá ngồi đọc “Bức thư của Bồ-tát Long Thọ gửi cho vua Gautamiputra”, thấy ngôn ngữ ngân vang vẻ âm u huyền bí nhưng đầy uy quyền của tuệ giác, sanh khởi niềm vui ngó nghiêng và dè dặt bàn chân bước vào Con đường của Pháp…

10990914_10152832865143929_7360310301436138373_n

Tự do và triết học…


Tự do và triết học vốn là những mê đắm của thời tuổi trẻ. Lần này nó đã trở lại… Ký ức vẫn xanh rờn và mát mẻ dưới những vòm cây mít trong vườn ba me vào những ngày xuân năm nào, mình đu đưa trên võng và đọc triết học. Giao thời của những năm âm lịch là thời khắc dòng sinh hóa của vũ trụ vận hành qua mỗi cá thể. Giữa khoảng lặng thiên – nhân – địa ấy, nằm đọc triết và nghĩ ngợi linh tinh quả là thú vị của đời người. Năm này không có bóng mát vườn xuân quê nhà, giữa phồn hoa đô hội, mình lại được ngồi đọc bên chén trà sen miền Tây thơm thảo. Những trang sách khai phóng trí huệ con người ra khỏi chật chội ao tù, ra khỏi những u mê chướng khí của thời đại… Triết học và tự do đã thơm và đậm như hai vị đắng và ngọt của trà sen và hương xuân… !

10998408_10152817407218929_363963579716768863_n

Ngày 13/02/2015

Niềm tin suy tàn !


Với một nguồn nhân lực già nua, cằn cỗi sáng tạo, tham lam và dối trá vô độ, hệ thống quản trị quốc gia (nói chính xác là hệ thống cầm quyền thống trị) chỉ biết dựa vào 3 nguồn lực chính: tài nguyên, nguồn vốn vay của nước giàu và nguồn cung ứng lao động giá rẻ (giai cấp công nông – nguồn lực nền tảng của xã hội “mới” theo lý thuyết Marcism) để phát triển.

images.jpg

Và đến lúc 3 nguồn lực đó cạn kiệt, để hệ thống tiếp tục tồn tại, thì hệ thống này chỉ còn biết dựa vào việc tận độ khai thác “quyền lực cầm quyền” sẵn có để tận dụng vét nguồn vốn sẵn có trong dân chúng như tăng các loại thuế (như xăng…), ép buộc thay đổi giá trị hiện có để trục lợi (như mua bán vàng SJC, và có thể đổi tiền trong tương lai gần…), trục lợi từ niềm tin thơ ngây và tuyệt vọng của dân chúng (qua trò chơi xổ số Vietlot) và cả việc quỳ gối ngoại bang để xin tiền mặc nhiên đat đai biển cả bị mất, tình trạng nô dịch càng lún sâu hơn…

Tương lai gần nhất có thể là thuế đất và thuế nhà sẽ tăng lên gấp nhiều lần ? (Theo vận trù học cá nhân). Nhân dân chuẩn bị đi là vừa !


1. Đã với qua mười lăm năm của thế kỷ mới, thơ Quảng vẫn như còn chưa thoát khỏi cái bóng của quá khứ. Mười lăm năm trong hành trình một nền thơ quả thực là quá ngắn để nói được điều gì, song cũng đủ lùi xa khiến chúng ta có thể đủ sự điềm tĩnh để nhìn thấy lược đồ chuyển động của một vùng thơ.

2. Với những Khương Hữu Dụng, Bùi Giáng, Trinh Đường, Thu Bồn,… những nhà thơ đã sẵn sàng dâng hiến mình cho thơ, nhiều thập niên qua, thơ Quảng không có một số phận nào tuẫn nạn cho thơ, thậm chí dường như thơ trở thành vật hiến tế để cầu danh cho nhà thơ.

3. Song song với nền thơ là một nền phê bình què quặt, nơi mà ai cũng có thể trở thành những nhà phê bình với những hỏa mù ngôn ngữ khiến gương mặt thơ của một vùng đất vẫn nhơn nhơn đầy đặn hoa thơm trái ngọt. Trên các mặt báo, những bài “phê bình thơ” vẫn là những món lẩu trộn lẫn chất báo chí – bình tán, chỉ có giá trị như những bài điểm sách “mèo khen mèo”.

4. Thơ Quảng hiện đại từ Tình già – Phan Khôi đến nay vẫn là những cuộc bắn pháo hoa: màn đầu là Phan Khôi báo hiệu khai sinh phong trào Thơ Mới, rồi Bùi Giáng với thi tứ dị cuồng, ngôn ngữ khai phóng sản sinh một khuynh hướng thơ kỳ lạ mà quyến rũ khó gọi tên, rồi những Lê Thu Thuỷ, Hoàng Mai có người xem như chuẩn bị cho phiên đổi gác trong thơ hiện đại Việt Nam vào thập niên cuối thế kỷ XX, gần đầy, những Nguyễn Hữu Hồng Minh, những Lý Đợi với nhiều thể nghiệm mới đang trở thành một tiêu điểm mới trên bản đồ thơ Việt, nhưng vẫn còn nhiều tuyên ngôn, nhiều khẩu dụ hơn là các tác phẩm đủ sức làm xôn xao cảm xúc hay gây nổ suy tư công chúng thơ. Những cuộc “duy tân” trong thơ vẫn nằm ở những phút giây bắn pháo hoa rực rỡ ấy ?

15825893_10154511772673929_4942334916555283780_n

5. Tôi không đủ sức để đọc tất cả thơ Quảng cũng như dõi theo sự chuyển động của thơ Việt trong mấy mươi năm qua để có thế thấy được những thành tựu, những đóng góp, những chuyển động của vùng đất thơ xứ Quảng mà trong tâm thức của riêng tôi vẫn là vùng đất của văn xuôi và phê bình. Thơ Quảng, trong ý nghĩ và cảm xúc của tôi là vẫn quẫy đạp trong không gian thẩm mỹ cũ.

6. Trong khi đấy, thơ Đường luật, nói đúng hơn một thể thơ biến dị 56 chữ hoặc 28 chữ chèn chẹn với vần chân, độc vận, lại bất kể luật niêm và đối trong thơ Đường luật chính thống đã hiện hồn trở lại ở các phường thơ đô thị và trong các Phật tự.

7. Thơ ca hiện nay đã chuyển động đi rất xa các giá trị xác lập hồi giữa thế kỷ, bài thơ bây giờ được nhận thức như một hình thức thẩm mỹ mà giá trị xúc cảm được tạo nên bằng các va đập, biến dị của ngôn từ hơn là sự liên kết ngôn từ, tứ thơ thay thế bằng một chuỗi liên tưởng lan tỏa đến vô hạn để khơi gợi suy tư, người đọc thơ được sống với tinh thần “dân chủ” trước người làm thơ khi tiếp tục trò chơi thơ mà nhà thơ đã vạch ra trong bài thơ,… Trong khi ấy, thơ Quảng vẫn tiếp tục một số khuynh hướng chung trong truyền thống: coi trọng yếu tố tự sự trong thơ; sử dụng nhiều “điển cố” mới sáo mòn, dòng thơ 7 chữ, 8 chữ, 5 chữ, hay 6-8 đều đặn trên bài thơ vẫn thống lĩnh trong thơ, tứ thơ vẫn khởi lên tại một điểm nhấn ngôn từ trên bài thơ, bài thơ luôn triển khai ngôn từ để đạt tới một chủ đề, một nội dung cụ thể nào đó. Thơ vì thế bị “bắt chết” vào một ý niệm định trước của nhà thơ; bài thơ vì thế là một sinh thể “đóng khung” giới hạn thẩm mỹ của người đọc. Cả vùng đất thơ, cả nền thơ vì thế chỉ có câu thơ hay (theo thẩm mỹ truyền thống), khổ thơ hay, mà ít có bài thơ hay,… Còn tác giả thơ hay thì dường như trống vắng ?!

Những bài thơ trong một ngày 24/12


2013

Cuối năm đốt một nén nhang
Tình lên ngun ngút trắng tàn tro bay
Khói sương ngập mắt người say
Nhớ lên lưng lửng giữa ngày giữa đêm…

2014

Lần quần giữa cõi âm dương
Dạt trôi bến nhớ đò thương cuối mùa
Đồi hoang tím suốt hoa mua
Ta ngồi đếm tuổi hơn thua với trời
Thõng tay ngồi ngó mặt người
Chảy trôi về phía mặt trời đang lên…

2015

Tối qua ngủ rất tình cờ
Quá khuya nghe tiếng bơ phờ của đêm
Chuông chùa lẫn khói Noel
Tiếng rung đứt nối nổi nênh kiếp người
An thân lặng thấy nói cười
Tinh tâm lại ngộ đười ươi là mình !

2016

Ngày qua ngọn cỏ vẫn sương
Ngày về nhớ lại vẫn thương như hồi
Năm mươi tình đã về trời
Để ta năm mốt với người trong mơ !

Saigon, ngày 24/12 (tứ niên)

14859512_850801781721616_2010275696_o